Tiếng nói trẻ blog
Searching...

CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN - KHÁT VỌNG VƯƠN LÊN CỦA LOÀI NGƯỜI

Đăng lúc: Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2017
Hãy like nếu bài viết có ích →

Thanh Hùng

Chủ nghĩa cộng sản là học thuyết triết học xã hội và chính trị do C.Mác và Ph.Ăng- Ghen xây dựng, sau đó được Lênin áp dụng và phát triển vào những điều kiện lịch sử mới. Về mặt học thuyết, chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa xã hội khoa học cũng đều có nghĩa như nhau, là hệ thống những quan điểm duy vật, khoa học về thế giới, về vị trí của con người trong thế giới đó. Nó còn là khoa học về những quy luật chung nhất của sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy; quy luật về sự phát triển sức sản xuất xã hội. Đây là một cấu trúc kinh tế – xã hội và hệ tư tưởng chính trị ủng hộ việc thiết lập một xã hội phi nhà nước, không giai cấp, bình đẳng, dựa trên sự sở hữu chung và điều khiển chung đối với các phương tiện sản xuất và tài sản nói chung. 

  CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN - KHÁT VỌNG VƯƠN LÊN CỦA LOÀI NGƯỜI

Mác và Ăng Ghen cho rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ là giai đoạn cuối cùng của xã hội loài người, đạt được qua một cuộc cách mạng vô sản. “Chủ nghĩa cộng sản thuần túy” theo Mác và Ăng Ghen nói đến một xã hội không có giai cấp, không có nhà nước và không có áp bức, mà trong đó các quyết định về việc sản xuất cái gì và theo đuổi những chính sách gì được lựa chọn một cách dân chủ, cho phép mọi thành viên của xã hội tham gia vào quá trình quyết định ở cả hai mặt chính trị và kinh tế.

Trong vai trò một hệ tư tưởng chính trị, chủ nghĩa cộng sản thường được xem là một nhóm lớn học thuyết triết học về chính trị và kinh tế được rút ra từ nhiều phong trào chính trị và tri thức với nguồn gốc từ các tác phẩm của các nhà lý thuyết của các cuộc cách mạng tư sản và cách mạng công nghiệp. Chủ nghĩa cộng sản cố gắng đưa ra một giải pháp khác cho các vấn đề của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa dân tộc. Trên cơ sở nghiên cứu sự vận động của lịch sử loài người nói chung, sự vận động của xã hội tư bản nói riêng, Mác và Ăng Ghen khẳng định rằng cách duy nhất để giải quyết các mâu thuẫn xã hội lúc này là tầng lớp lao động (vô sản), những người mà theo Marx là lực lượng chính tạo ra của cải vật chất trong xã hội và là những người bị tầng lớp tư sản bóc lột, đứng lên làm tầng lớp cầm quyền thay cho giới tư bản để thiết lập một xã hội tự do, không phân biệt giai cấp hay chủng tộc. Trong đó, Mác và Ăng Ghen đã chỉ rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là kẻ đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản và là người sáng tạo ra một xã hội mới – xã hội cộng sản, trong đó chế độ tư hữu bị xoá bỏ, chế độ công hữu được xác lập, không còn những đối kháng giai cấp và chế độ người bóc lột người, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người. Trên cơ sở đó, chủ nghĩa cộng sản thay thế chủ nghĩa tư bản là do kết quả của cách mạng vô sản thắng lợi và nền chuyên chính vô sản được thiết lập.

Mác và Ăng Ghen đồng thời cũng chỉ rõ, hình thái xã hội cộng sản có hai giai đoạn phát triển: giai đoạn thứ nhất là giai đoạn mà xã hội mới xây dựng vừa thoát ra từ xã hội tư bản. Vì thế về mọi phương diện, xã hội ấy còn mang những dấu vết của xã hội cũ, xã hội đẻ ra nó, xã hội tư bản. Giai đoạn này được gọi là giai đoạn xã hội chủ nghĩa, hay chủ nghĩa xã hội, giai đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản. Nguyên tắc phân phối trong giai đoạn này là nguyên tắc phân phối theo lao động. Giai đoạn thứ hai của chủ nghĩa cộng sản là giai đoạn xã hội cộng sản đã phát triển trên cơ sở riêng của nó, giai đoạn cao của chủ nghĩa cộng sản. Trong giai đoạn này cá nhân không còn bị phụ thuộc một cách nô lệ vào sự phân công, sự đối lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc không còn; lao động trở thành nhu cầu bậc nhất của đời sống; lực lượng sản xuất cũng tăng lên cùng với sự phát triển mọi mặt của cá nhân, nguồn của cải dồi dào. Theo Mác và Ăng Ghen, chỉ trong giai đoạn này, xã hội mới có thể thực hiện nguyên tắc phân phối của xã hội cộng sản: làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Và cũng chỉ trong giai đoạn này mới tạo ra được những điều kiện cho sự phát triển toàn diện của cá nhân, các nguyên tắc của đạo đức cộng sản mới được khẳng định.

Những hình thức nổi bật của chủ nghĩa cộng sản đã xuất hiện trên thế giới, chẳng hạn như: Chủ nghĩa Lênin, Chủ nghĩa Stalin, Chủ nghĩa Mao và Chủ nghĩa Trosky, đều có nền tảng là Chủ nghĩa Mác. Trong nửa sau của thế kỷ 19, thuật ngữ chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội chính thức được dùng đồng nghĩa với phong trào công nhân nói chung. Trong cuộc cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, những người thuộc Đảng Bolshevik sử dụng thuật ngữ “cộng sản” để mô tả đảng của họ. Cụ thể hơn, Quốc tế III – Quốc tế Cộng sản thành lập năm 1919 đã cho thuật ngữ “cộng sản” một ý nghĩa cụ thể hơn. Từ đây, nhiều tổ chức Đảng Cộng sản đã được thành lập, chủ yếu vận hành theo đường hướng tập trung dân chủ của Lenin. Cũng chính Lenin, trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng đã chính thức hóa sự khác nhau giữa chế độ cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa, coi đây là chủ đề của quá trình tái thiết xã hội. Marx đã xác định xã hội sau cách mạng là một xã hội mà ở đó giá trị được hưởng sẽ tương xứng với giá trị lao động bỏ ra, và đó là “một xã hội cộng sản ở giai đoạn cao hơn”. Lênin gọi giai đoạn đầu là “chủ nghĩa xã hội” và giai đoạn sau là “chủ nghĩa cộng sản”.

Tuy là một học thuyết bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống nhưng bản thân chủ nghĩa cộng sản cũng có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển lý luận Quan hệ quốc tế. Mác và Ăng Ghen cho rằng sự ra đời của chủ nghĩa tư bản đã góp phần quan trọng vào việc tạo nên thị trường thế giới thống nhất. Mục đích lợi nhuận đã thúc đẩy giai cấp tư sản vươn ra khai thác thị trường thế giới. Sự phát triển công nghiệp, giao thông vận tải và các phương tiện thông tin liên lạc đã thúc đẩy sự phát triển quan hệ quốc tế và tạo điều kiện cho sự bóc lột của giai cấp tư sản vượt khỏi khuôn khổ biên giới quốc gia đi ra quốc tế. Vai trò của quốc gia sẽ giảm dần và giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị thế giới. Quan hệ quốc tế trở thành quan hệ bóc lột mang đậm tính chất giai cấp. Cùng với đó, mâu thuẫn giai cấp trở thành nội dung chính trị quan trong của quan hệ quốc tế và cuộc đấu tranh giai cấp sẽ được mở rộng trên quy mô thế giới. Vì thế, cuộc đấu tranh giai cấp và cách mạng của giai cấp vô sản thế giới là có tính toàn thế giới. Mác đã kêu gọi: Vô sản toàn thế giới hãy liên hiệp lại. Đây cũng chính là cơ sở của lý thuyết đấu tranh giai cấp trên trường quốc tế.

Tại Việt Nam, từ những năm 1920, chủ nghĩa Mác – Lênin được truyền bá vào Việt Nam, và sau đó Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập vào năm 1930. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã giành được độc lập trong cuộc Cách mạng tháng Tám, tiến hành thành công hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giúp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Từ năm 1986, Việt Nam đã thi hành chính sách Đổi mới, nhằm xây dựng một nền kinh tế thị trường mang định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục kiên trì con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đảng xác định chủ nghĩa xã hội hiện thực có bị thu hẹp phạm vi nhưng lý tưởng cao cả của chủ nghĩa xã hội vẫn là niềm mơ ước của loài người tiến bộ và đi lên chủ nghĩa xã hội vẫn là xu thế tất yếu của xã hội loài người trong thời đại ngày nay.

Chủ nghĩa Mác-Lênin giúp cho những người cộng sản và một bộ phận rộng lớn trong nhân dân Việt Nam có được những lý tưởng xã hội làm linh hồn cho các cuộc đấu tranh giải phóng. Nhìn lại lịch sử, ở nước ta cũng như nhiều nước khác, phong trào giải phóng dân tộc nào cũng đi theo những lý tưởng xã hội nào đó. Yêu nước và giải phóng đất nước không bao giờ là lý tưởng riêng biệt, mà thường gắn với những lý tưởng, những học thuyết xã hội khác nhau (chủ nghĩa Gandhi, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, chủ nghĩa Kémal…). Câu hỏi của những người dân mất nước bao giờ cũng là: sau khi giành được độc lập dân tộc rồi, chế độ xã hội nào đến với mình? Đó là câu hỏi liên quan với số phận từng con người với tư cách con người. Chủ nghĩa cộng sản đem lại một câu trả lời rành mạch: đó là một xã hội không có người bóc lột người, một xã hội công bằng, không có giàu nghèo, không có của riêng, mọi thứ đều là của chung cả. Tất nhiên, không phải ai cũng tán thành lý tưởng đó. Nhưng số đông người dân đang sống nghèo cực, đó là lý tưởng hết sức hấp dẫn. Nhất trong những hoàn cảnh như của Việt Nam, với tâm thức cộng đồng còn mạnh, với lý tưởng một xã hội “đại đồng” còn phảng phất màu sắc chủ nghĩa bình quân, với khát vọng “đổi đời” nhanh chóng thì lý tưởng đó rất hợp với “thể tạng” đại đa số người, nếu không nói là tất cả những người cộng sản Việt Nam và những người đi theo họ đều gắn lòng yêu nước, ý chí giải phóng dân tộc với những lý tưởng công bằng xã hội ấy. Ngây thơ ư? Có thể là thế, nhưng đó là một sự thật. Cuộc sống sau này, khi bắt tay xây dựng một xã hội mới theo những lý tưởng đó, dần dần mở mắt cho mọi người để thấy rằng những lý tưởng ấy mang “tính không tưởng vĩ đại”, nhưng đó là chuyện về sau. Còn trong tiến trình đấu tranh giải phóng, những lý tưởng xã hội do chủ nghĩa Mác-Lênin đề xướng đã đóng đầy đủ vai trò “chính ủy” của nó.

Chủ nghĩa Mác-Lênin đem lại cho những người cộng sản Việt Nam một phương pháp tổ chức lực lượng đối với bản thân mình và đối với quần chúng đông đảo rất có hiệu quả. Có nhà nghiên cứu nước ngoài gọi đó là “kỹ thuật tổ chức” của cộng sản, và gọi như vậy không có gì sai. ĐCSVN được tổ chức theo “đảng kiểu mới” của Lênin, tỏ ra rất có hiệu quả trong đấu tranh, nhất là khi phải đương đầu với những thế lực thù địch mạnh hơn nó rất nhiều. Một đảng chiến đấu, với kỷ luật thép để bảo đảm sự lãnh đạo tập trung từ trên xuống dưới, để bảo toàn lực lượng đến mức cao nhất trong những hoàn cảnh khủng bố và chiến tranh – những người cộng sản Việt Nam đã tạo ra được một đảng như vậy. Và bằng những hình thức, những phương thức tổ chức vừa uyển chuyển, vừa chặt chẽ, ĐCSVN đã tạo ra được cả một mạng lưới tổ chức quần chúng chặt chẽ ngày càng sâu rộng, tới tận ngõ ngách thành phố, làng mạc, thâm nhập các tầng lớp xã hội khác nhau. Thành công của những người cộng sản Việt Nam, ở một mức độ rất lớn, là thành công về mặt tổ chức. Và thành công này chính là bắt nguồn từ học thuyết về tổ chức đảng của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Tóm lại, với chủ nghĩa Mác-Lênin, những người cộng sản Việt Nam có được những sức mạnh mới, những lý tưởng xã hội mới, những phương thức tổ chức mới, những yếu tố này làm tăng thêm rất nhiều sức chiến đấu giành giải phóng dân tộc và làm cách mạng xã hội.

Về chủ nghĩa cộng sản với tư cách một xã hội tương lai, thì trong thời gian đầu, từ giữa những năm 20 đến giữa những năm 50, nó chỉ mới hiện ra dưới dạng lý tưởng xã hội. Mặc dù rải rác đây đó có nói tới chủ nghĩa xã hội như một chế độ xã hội hiện thực ở Liên Xô trên báo chí bí mật và công khai của đảng cộng sản (rất tiếc là Nhật ký chìm tàu của Nguyễn Ái Quốc, một tập sách nhỏ viết về xây dựng xã hội mới ở Liên Xô, đã bị thất lạc). Phải đến sau khi giải phóng miền Bắc, tức là khi vấn đề chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa được Đảng Cộng sản chính thức đặt ra, thì những lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin mới được du nhập như một học thuyết. Và điều này cũng chỉ được làm dần dần, vừa về lý luận, vừa bằng kinh nghiệm.

Sự vận động xã hội hiện nay và trong tương lai gần gũi đang đòi hỏi những tìm kiếm mới về con đường phát triển xã hội thích hợp nhất. Những tìm kiếm ấy đã bắt đầu, và cũng bắt đầu từ chính trong ĐCSVN, bên cạnh những tìm kiếm của những người có tâm huyết với đất nước, có tầm nhận thức phù hợp với thế giới hiện đại. Chưa bao giờ cần có một sự hợp lực chung để tìm kiếm con đường đi tới của đất nước như bây giờ. Chỉ cần gạt bỏ những định kiến, những mặc cảm – vết tích của một thời “tư tưởng trị” đã qua – là có thể cùng nhau làm được công việc hệ trọng và bức bách ấy. Và nếu như trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, những người cộng sản từng đóng vai trò đi đầu, vai trò trung tâm, thì không một lý do gì lại ngăn cản họ tiếp tục đóng vai trò trong việc tìm kiếm con đường thích hợp với dân tộc hiện nay. Nhưng đó là sự lựa chọn của bản thân những người cộng sản, không ai có thể làm thay được. Tôi cầu mong ĐCSVN thành công trong sứ mệnh mới này. Và chắc chắn sự thành công ấy sẽ là cái bảo đảm tốt nhất để ĐCSVN tiếp tục đóng vai trò xứng đáng của mình trong xã hội, hiện nay và cả trong tương lai.



Tóm lại, nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ khi thành lập Đảng đến nay, cho thấy những câu trả lời cho hiện tại - tương lai - triển vọng của chủ nghĩa xã hội ở nước ta, của nhân dân và dân tộc ta là: Chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối cách mạng Việt Nam là tiền đề tiến đến chủ nghĩa cộng sản – khát vọng của loài người. Mục tiêu, bản chất của chủ nghĩa xã hội, của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhằm tạo lập cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại của chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam hành động của cách mạng Việt Nam, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là xây dựng một “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tang, tinh thần ngày càng tốt...”. Từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và công cuộc đổi mới đã khẳng định sự lựa chọn đúng đắn của Đảng và Bác Hồ về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển của xã hội trong thời đại ngày nay và là bước đệm tiến tới chủ nghĩa cộng sản.


Bài viết liên quan

- Liên kết quảng cáo -
QUANG CAO O DAY