Tiếng nói trẻ blog
Searching...

PHƠI BÀY ÂM MƯU CỦA TRUNG QUỐC (Phần 2)

Đăng lúc: Thứ Năm, 22 tháng 5, 2014
Hãy like nếu bài viết có ích →

Tôn Minh
Một mũi tên trúng nhiều đích 

- Đối với Trung Quốc: Trung Quốc là cường quốc đang trỗi dậy, với tham vọng trở thành bá chủ mới trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Biển Đông được cho là chìa khóa của chiến lược này. Đây là lý do quan trọng chiến lược khiến Bắc Kinh đưa ra yêu sách chủ quyền với gần như toàn bộ vùng biển, đồng thời không ngừng có các hành vi nhằm thay đổi hiện trạng tại đây. Về vấn đề liên quan đến Biển Đông là một trong những chiến lược của Trung Quốc trong việc vươn ra toàn cầu bằng kinh tế biển mà người ta vẫn gọi là "giấc mộng Trung Hoa". Và Trung Quốc đang làm mọi việc để thực hiện giấc mộng đó. 

Bên cạnh đó, tình hình nội tại Trung Quốc đang gặp nhiều vấn đề căng thẳng, đặc biệt là vấn đề Tân Cương, Tây Tạng. Đồng thời, những vấn đề tha hóa xuống cấp của các quan chức Trung Quốc, cùng với mâu thuẫn xã hội đang đặt ra một thách thức với Bắc Kinh: họ cần có một đòn bẩy để kích hoạt sự đoàn kết dân tộc và chủ nghĩa đại Hán vốn đã ăn sâu vào tiền thức của người cầm quyền Trung Quốc. Gây xung đột với chiêu bài tự vệ nhằm đẩy sự quan tâm căng thẳng mâu thuẫn trong nước ra bên ngoài là cách thức tốt nhất. Đây không phải là cách làm mới mẻ. Nhìn lại lịch sử Trung Quốc vào thế kỷ XI, dưới triều đại nhà Tống, nhằm cứu vãn tình thế khó khăn trong nước và sự uy hiếp của hai nước Liêu – Hạ ở phía Bắc và Tây Bắc Trung Quốc, nhà Tống đã tiến hành chiến tranh mở rộng lãnh thổ xuống phương Nam (trong đó có Đại Việt). Mục tiêu là tìm một chiến thắng đối ngoại lấy uy danh cho việc thi hành chính sách ổn định bên trong. 

Một yếu tố khác nữa là: Trung Quốc còn đang đặt một phép thử mới. Bắc Kinh đặt chỉ tiêu đòi hỏi chủ quyền “đường lưỡi bò” đến năm 2050 sở hữu trong tay 80% diện tích Biển Đông. Chỉ còn 35 năm cho cái tâm nguyện đó, và Bắc Kinh cũng mong làm cho xong càng sớm càng tốt. Vậy là để bắt đầu, họ phải tìm một cái đích để triển khai: Tuyên bố về vùng phòng không AIDZ qua biển Đông, gây hấn với Malaysia ở bãi ngầm James Shoal, hay với Philippines ở bãi cạn Scarborough… là những một phép thử đối với thái độ và quyết tâm chính trị của các quốc gia có liên quan và dư luận quốc tế, bao hàm cả thái độ của Mỹ. Với Việt Nam, những phép thử bắn tàu cá ngư dân, cắt cáp thăm dò, cấm đánh bắt cá… đã được áp dụng. Giàn khoan này mới là một bài toán thực sự. Trung Quốc cần đáp án cho thái độ của Việt Nam. Lần này, Việt Nam đang đứng trước thách thức sống còn, không chỉ là toàn vẹn lãnh thổ mà còn là hòa bình chung cho cả Biển Đông. 

- Đối với Việt Nam: hành động lần này là những bước đi bài bản của tham vọng bành trướng nước lớn, điều này không quá xa lạ đối với dân tộc Việt Nam, vấn đề là trong tình hình hiện nay rất cần những cái đầu tỉnh táo, sáng suốt để không mắc phải mưu đồ thâm hiểm của Trung Quốc. Trước hết Việt Nam cần hết sức cảnh giác với thủ đoạn “dương đông, kích tây”, “bỏ hư đánh thực” của Trung Quốc. Bên cạnh việc đấu tranh để Trung Quốc rút giàn khoan HD-981, cần rất cảnh giác và đấu tranh quyết liệt với những động thái khác trên Biển Đông. Trong thời gian gần đây, có thông tin Trung Quốc đang tiến hành xây dựng trên đảo Gạc Ma và một số hòn đảo mà Việt Nam có chủ quyền. Liệu có sự móc nối nào không giữa việc đặt giàn khoan với các công trình xây dựng đó? Có hay không việc Trung Quốc cố tạo ra một sự kiện nhằm tập trung dư luận quốc tế vào đó để tiến hành những công việc có tầm quan trọng về chiến lược khác? Có hay không sự kiện giàn khoan chẳng qua chỉ là hành động nhằm phân tán lực lượng và sự quan tâm của Việt Nam?... Trung Quốc đang cố gắng xây dựng nhiều các công trình bởi họ muốn lấy đó làm cơ sở để tính chủ quyền mặt nước. Có thể làm bằng chứng cho họ chiến thắng ở tòa án quốc tế phân xử tranh chấp chủ quyền, rằng giờ nó là của tôi và các cơ sở quản lý này của tôi đã ở đây! Nhưng Trung Quốc chắc không có ý định ra bất cứ tòa án nào cả. Vì thế, việc xây dựng của họ ở đây là nhằm mục đích khác. Trung Quốc muốn cho dư luận biết rằng không chỉ đánh chiếm, mà còn chiếm giữ trên thực tế. Điều này cũng tương tự như sự kiện ngày 19/7/2012, Quân ủy Trung ương Trung Quốc chính thức quyết định thành lập “Cơ quan chỉ huy quân sự” của cái gọi là “thành phố Tam Sa”, đặt căn cứ trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, và việc ngày 21/7/2012 Trung Quốc tổ chức bầu cử đại biểu Đại hội đại biểu Nhân dân khóa I của cái gọi là “thành phố Tam Sa”. 

Bên cạnh đó, Việt Nam rất cần cảnh giác và có hành động quyết liệt, khôn khéo với những động thái xúi giục các thế lực phản động trong nước (nếu có). Hiện nay, chưa có gì chắc chắn rằng những vụ bạo động, quá khích của công nhân trong những cuộc biểu tình phản đối sự kiện Trung Quốc đặt giàn khoan HD-981 ở khắp nơi là không có bàn tay của kẻ xấu lợi dụng nhằm làm xấu hình ảnh của Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài. 

Thêm nữa, hiện tại theo thống kê của các cơ quan quản lý nhà nước, đã có hơn 150 website của Việt Nam bị tấn công, và tất cả website này đều đã bị tin tặc kiểm soát. Hacker đến từ Trung Quốc đã để lại lời tuyên bố chính những xung đột trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc là nguyên nhân của vụ tấn công này. Một số chuyên gia an ninh cho rằng nguyên nhân của vụ tấn công hàng loạt website Việt Nam lần này là do trước đó nhiều hacker Việt Nam đã thực hiện tấn công từ chối dịch vụ (DDoS) các website Trung Quốc để thể hiện sự bất bình trước hành động đặt giàn khoan dầu HD 981 trái phép vào thềm lục địa Việt Nam. Trước những căng thẳng tiếp tục leo thang giữa hai bên, Việt Nam phải có những bươc chuẩn bị kỹ lưỡng để ứng phó nếu xảy ra các cuộc tấn công với quy mô lớn. Trên thực tế, việc hacker các nước chủ mưu thực hiện các cuộc tấn công vào những nước đối thủ đã trở thành hiện tượng không mới với sự liên quan về các vấn đề chính trị giữa các nước. Từ năm 2008, xung đột giữa Nga và Gruzia và mới đây là cuộc chiến giữa Nga và Ukraina cũng đã xuất hiện những vụ tấn công qua lại giữa hacker hai bên. Người ta ví xung đột giữa Nga và Ukraina như là một “cuộc chiến không tiếng súng” khi mà các cuộc giao tranh trên thế giới ảo còn diễn ra gay gắt không kém với cuộc chiến trên bàn chính sự. đối với “cuộc chiến không tiếng súng” thì rất khó kiểm soát được mức độ tác động. Điển hình như năm 2009, cuộc tấn công DDoS với hơn 166.000 máy tính từ 74 nước trên thế giới được huy động trong cuộc tấn công nhằm vào website của chính phủ Mỹ, Hàn Quốc và một số quốc gia khác. Đây đều là những quốc gia có hệ thống an ninh mạng hiện đại nhưng việc chống đỡ lại tin tặc đã gặp khó khăn. Cuộc tấn công DDoS kéo dài một tuần khiến nhiều website tê liệt, trong đó có website của Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải, Ủy ban thương mại liên bang (Mỹ) và trang chủ của tổng thống Hàn Quốc. 

Do vậy, Việt Nam cần phải có sự phối hợp giữa các cơ quan chuyên trách về bảo mật, giữa cơ quan chính phủ và những nhà cung cấp dịch vụ ISP để cùng nhau ngăn chặn tin tặc tấn công sâu vào hệ thống. 

- Đối với khu vực và thế giới: theo các chuyên gia quốc tế, vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam mà Trung Quốc hạ đặt giàn khoan không hề có dầu mỏ, hoặc nếu có cũng không đáng kể. Điều này cho thấy, mục đích thực sự của Trung Quốc chưa phải vì dầu mỏ khi xâm phạm trái phép vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Thay vì nhắm tới một khu vực có trữ lượng dầu mỏ lớn, Bắc Kinh hiện chỉ đơn giản là muốn gây sức ép lớn nhất có thể lên các nước láng giềng, nhằm tối đa hóa phạm vi vùng biển mà nước này mưu đồ muốn kiểm soát trong tương lai. Như vậy, trước mắt vấn đề của Trung Quốc trên biển Đông không chỉ là kinh tế. Mục tiêu cao hơn của họ là an ninh và chính trị. Dầu mỏ là nguyên nhân, nhưng không phải chủ yếu. Trung Quốc đặt giàn khoan vào vị trí này là có lý do của họ. Tọa độ đặt giàn khoan đặc biệt quan trọng về vị trí chiến lược. Ở đây có thể quan sát được toàn bộ 2.360km bờ biển Việt Nam, đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng và hàng hải quốc tế. Giàn khoan trên có thể là một thông điệp mạnh mẽ của về ý định của Trung Quốc trong khu vực, sự mập mờ về những động thái đơn phương của Trung Quốc khiến cho việc giải đáp đầy đủ và thuyết phục câu hỏi này khó khăn hơn, nhưng rất nhiều bằng chứng rõ ràng về vụ họ đưa giàn khoan vào biển Việt Nam đã kiểm tra được tinh thần của các quốc gia ASEAN và Mỹ. Điều này cũng cho Bắc Kinh cơ hội để đo lường những phản ứng quốc tế về những tuyên bố quả quyết về vùng lãnh hải của họ. Thế nên, đưa giàn khoan tới là muốn gửi một thông điệp chính trị. Bên cạnh đó, có thể Trung Quốc cũng muốn khiêu khích Việt Nam, muốn Việt Nam có phản ứng vượt giới hạn. Đó chính là bài mà Bắc Kinh sử dụng lâu nay, đó là dùng các lực lượng phi quân đội nhưng vẫn đầy khiêu khích để đưa các nước vào bẫy. Chúng ta có thể tham khảo những gì đã xảy ra ở đảo tranh chấp giữa Nhật và Trung Quốc hay ở bãi cạn Scarborough khi mà Trung Quốc đã làm cho Philippines đưa tàu chiến ra và Trung Quốc hô lên rằng, đó là Philippines có hành động khiêu khích. Thêm nữa, trước khi Trung Quốc có thể bắt đầu “thử lửa” với các đồng minh của Mỹ trong khu vực, như Philippines – nước vừa ký một thỏa thuận quốc phòng mới thời hạn 10 năm Mỹ, Trung Quốc muốn biết Mỹ có muốn bảo vệ lợi ích của họ trong khu vực này hay không?... 

Từ những phân tích trên, chúng ta thấy Trung Quốc có quá nhiều toan tính trong bước đi mạo hiểm trên Biển Đông thông qua sự kiện đặt giàn khoan HD-981 trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, và rõ ràng động thái này của Trung Quốc đã trực tiếp liên quan đến nhiều quốc gia và khu vực. Đối với Trung Quốc thì đó có thể là mũi tên trúng nhiều đích, trong khi đó có lẽ họ chưa lường hết được hệ lụy của nó.


Bài viết liên quan

- Liên kết quảng cáo -
QUANG CAO O DAY