TIN TỨC

Lịch sử văn hóa H'Mông- những điều lý thú nhất



H'Mông là một dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Lịch sử và văn hóa của họ có nhiều nét riêng thú vị.

Về mặt nguồn gốc, dân tộc H’Mông (hay còn gọi là Mông, Mèo) là một bộ phận cư dân ở Đông Nam á, có nguồn gốc chung với người Dao sinh tụ buổi đầu ở lưu vực sông Hoàng Hà (Trung Quốc ngày nay), là những người sớm biết làm nghề trồng lúa nước ở giữa vùng hồ Động Đình, Bành Lãi. Họ đã lập ra nước "Tam Miêu" với chủ tướng là Sưu Ưu và đã từng tranh hùng tranh bá một phương với vua Nghiêu, vua Thuấn, vua Vũ. Về sau, do thế lực suy yếu, lại bị nhà Hán bành trướng nên con cháu người H’Mông bị đẩy lùi dần về miền tây Hồ Nam và Quí Châu sống cuộc đời du canh du cư, nay đây mai đó trong các vùng rừng núi. Các tư liệu lịch sử cho ta thấy rằng người H’Mông từ rất xa xưa đã xuất phát mở đầu cuộc di cư của mình từ đất Trung Quốc với tư cách của những người chống áp bức bóc lột, đi tìm tự do. Từ miền Tây nam Trung Quốc, đặc biệt ở các tỉnh Hồ Nam, Vân Nam, Quí Châu, Quốc Lâm, người H’Mông đến Việt Nam trong những thời gian khác nhau, với nhiều đợt, khởi điểm cách đây trên 300 năm tới các vùng biên giới thuộc các tỉnh Hà Giang, Lào Cai trong đó có hai đợt di cư lớn vào khoảng dưới 200 năm trước đây.

Theo các nhà sử học, dân tộc H’Mông di cư đến Việt Nam đợt lớn đầu tiên là vào thế kỷ XVII và đợt lớn thứ hai là vào giữa thế kỷ XIX. Đợt lớn đầu tương ứng với thời gian họ Mạc đang suy tàn cố thủ ở Cao Bằng, tiếp tục chống lại họ Trịnh và tiếp đó là cuộc nội chiến kéo dài ở hai bờ sông Gianh giữa chúa Trịnh ở đàng ngoài và chúa Nguyễn ở đàng trong. Đợt lớn thứ hai của người H’Mông di cư đến Việt Nam tương ứng với thời gian triều đình Mãn Thanh ký hiệp ước Thiên Tân nhượng quyền cho bọn thực dân phương Tây, chia cắt Trung Hoa thành tô giới do Anh, Mĩ, Pháp, Bồ Đào Nha kiểm soát.

Gắn với những thời điểm lịch sử đó, có thể giúp ta dễ dàng nhận định sơ bộ rằng, hai đợt di cư lớn của người H’Mông đến Việt Nam đều có nguyên nhân về mặt chính trị. Đợt di cư lớn thứ nhất là tìm cách thoát khỏi ách áp bức bóc lột của người Hán, trong khi biên giới Trung Quốc - Việt Nam đựơc nới rộng, do Mạc Đăng Dung ươn hèn dâng một phần đất của tổ quốc cho nhà Minh, với hy vọng được rảnh tay ở phương bắc để tập trung đối phó với phong trào "Triều Lê trung hưng".

Đợt di cư lớn thứ hai là khi chế độ phong kiến chuyên chế Trung Hoa bắt đầu suy tàn thì lòng người cũng ly tán, trong khi mưu kế sinh nhai thúc bách, con người phải vượt biên tìm "đất lành chim đậu". Nhưng dù là nguồn gốc, nguyên nhân nào đưa đến di cư thì quá trình hình thành lịch sử các dân tộc có quan hệ gần gũi, đi lại và giao lưu văn hoá, kinh tế rồi dần dần trở thành một cộng đồng riêng của quốc gia ấy, là việc tự nhiên và bình thường của lịch sử. Một dân tộc sinh sống ở nhiều quốc gia khác nhau và một quốc gia có nhiều dân tộc cùng sinh sống là vì thế.

Lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc H’Mông là quá trình lịch sử vô cùng đau thương nhưng cũng rất oanh liệt, là quá trình đấu tranh liên tục bất khuất chống lại các triều đại phong kiến người Hán. Đến Việt Nam họ mong muốn có cuộc sống ổn định và ấm no hơn. Ban đầu người H’Mông định cư ở Cao Bằng sau đó lan rộng ra các tỉnh ở Việt Bắc, Tây Bắc hiện nay. Nhưng khu vực tập trung người H’Mông nhiều nhất là ở Hà Giang.

Nhưng ở đây họ vẫn không thoát ra khỏi cảnh áp bức, bóc lột, cuộc sống cơ cực lầm than lầm lũi trôi cùng năm tháng, nhất là khi thực dân pháp xâm lựợc đặt ách thống trị. Sống lâu đời trên đất nước Việt Nam, là người chủ đất nước và biên giới tổ quốc, lại sẵn có truyền thống dấu tranh chống áp bức bóc lột, căm thù phong kiến đế quốc, đồng bào H’Mông đã sát cánh cùng nhân dân các dân tộc anh em chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược. Đồng bào H’Mông đã cùng với các dân tộc anh em khác chiến đấu hoặc tự vùng lên khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm, luôn nêu cao truyền thống bất khuất và anh dũng đánh đuổi quân xâm lược. Mặc dù các cuộc khởi nghĩa đều bị thất bại nhưng thực dân Pháp và bọn tay sai vẫn không dập tắt đựợc tinh thần phản kháng của đồng bào. Tinh thần đáng quí ấy đã được phát huy mạnh mẽ khi có sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam.

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay, đồng bào dân tộc H’Mông đã phát huy truyền thống vẻ vang của mình, chấp hành tốt chủ trương, đường lối chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước, ra sức tăng gia sản xuất,định canh, định cư, phát triển dịch vụ thương mại, xây dựng kinh tế gia đình, kinh tế ở địa phương, góp phần xây dựng tổ quốc giàu mạnh. Nhiều hộ người H’Mông đã trở thành gia đình kiểu mẫu trong kinh doanh sản xuất với mô hình kinh tế trang trại, kinh tế rừng...

Đặc điểm này có ảnh hưởng đến tâm lí người H’Mông. Nó góp phần hình thành ở họ tâm lí tích cực cũng như tiêu cực: Họ có niềm tự hào về lịch sử của dân tộc H’Mông trong đấu tranh chống các thế lực phong kiến, thực dân, đế quốc, về thành quả người H’Mông đã đạt được trong xây dựng và phát triển kinh tế -xã hội. Tuy nhiên, do có quá khứ tủi nhục liên tục bị chèn ép, phải nay đây mai đó, nên người H’Mông dễ có mặc cảm về thân phận dân tộc thấp hèn, tính tự ti dân tộc cao. Cũng do vậy, người H’Mông có tinh thần bảo vệ nhau mỗi khi có hoạn nạn xảy ra trong dòng họ, dân tộc mình.

Trái ngược với những biểu hiện vật chất còn nghèo nàn, người H’Mông có một nền văn hoá - tâm linh khá giàu có. Sự phong phú đa dạng của nó toát ra không chỉ ở những di tích khảo cổ đã biết, những tập quán sinh hoạt, canh tác, chăn nuôi, trang trí nhà cửa.. mà còn trong toàn bộ phong tục tập quán, lễ nghi, lễ hội, hôn nhân, gia đình tang ma, cưới xin, giao tiếp, ứng xử, sinh hoạt dòng họ, làng bản... Có thể coi những gì mà người H’Mông có về mặt văn hoá dân gian là một rừng tài nguyên phong phú, đã được khai thác ít nhiều nhưng vẫn còn khá nguyên sinh.

Quan hệ làng bản, dòng họ:

Ở vùng người H’Mông, ngoài các tổ chức hành chính cơ sở, những quan hệ làng bản cổ truyền có vai trò quan trọng đối với cuộc sống con người. Trong điều kiện cuộc sống du canh du cư bất ổn định và ảnh hưởng của nền kinh tế tự cung tự cấp thì mối quan hệ đó càng đó càng được củng cố và lưu giữ lại một cách tự nhiên với các mức độ khác nhau ở các vùng.

Đơn vị cư trú của người H’Mông gọi là giao. Mỗi giao có thể có từ vài nóc nhà đến hàng trăm nóc nhà ở một hay nhiều địa điểm. Mỗi giao có phạm vi cư trú và đất đai làm ăn riêng. Mỗi giao có thổ thần chung và những qui ước chung có liên quan đến sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, bảo vệ rừng và tương trợ giúp đỡ nhau, hàng năm được bàn bạc khi cúng thổ thần.

Mỗi giao có một hoặc hai người đứng đầu theo chế độ luân phiên, họ đôn đốc thực hiện các qui ước chung gọi là "Lúng thầu " hay "Sống thầu".

Tổ chức xã hội có phạm vi rộng hơn giao gồm nhiều bản hay nhiều xã gọi là " giồng. Giồng cũng có qui ước chung, cúng thổ thần, ăn tập thể khi cúng. Tuy nhiên, người đứng đầu không phải do dân cử mà do một chức dịch có chức vụ cao nhất địa phương đảm nhiệm.

Dân cư một giao bao gồm nhiều họ và thường có một họ đông người nhất nhưng người ta vẫn thấy nhiều giao chỉ có một họ, nhưng người H’Mông quan niệm các dòng họ đều sinh ra từ một ông tổ tuy ông tổ đó được gọi không thống nhất. Các dòng họ phổ biến trong người H’Mông là: Lù, Giàng, Mã, Sùng, Vù, Cù, Thèn, Lùng, Ly...

Dòng họ của người H’Mông đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong xã hội, nó không phụ thuộc vào tổ chức hành chính địa phương hay luật pháp, nhưng chi phối mạnh mẽ đến tư tưởng và hoạt động của các cá nhân trong dòng họ. Nhiều dòng họ lấy tên các con vật, các hiện tượng tự nhiên hay gắn với các quan niệm kiêng kị nhất định. Quan hệ dòng họ đóng vai trò rất lớn chi phối nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội dân tộc, như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt xã hội dân tộc H’Mông. Người trong cùng dòng họ được coi là "những người anh em cùng tổ tiên" có thể chết trong nhà của nhau mà không sợ tổ tiên "trách cứ", luôn luôn phải giúp đỡ, cưu mang nhau trong cuộc sống. Do đó họ sẵn sàng giúp đỡ người cùng dòng họ về vật chất và công sức khi gia đình có công việc lớn như: làm nhà, ma chay, hiếu hỉ... họ rất ít khi bán đất cho người khác dòng họ và trong tang ma những người cùng dòng họ mới được khiêng quan tài.

Tổ chức dòng họ của người H’Mông rất chặt chẽ và được thể hiện ở vai trò người trưởng họ và bà cô. Người trưởng họ đảm nhiệm những công việc chung, có quyền trông coi mọi việc: sinh, tử, di cư, sản xuất, chịu trách nhiệm giải quyết những công việc liên quan trực tiếp đến các thành viên trong dòng họ, đồng thời thay mặt dòng họ mình giao thiệp hoặc giải quyết mọi sự tranh chấp với các dòng họ khác. Thông thường trưởng họ là người có khả năng, bất kể tuổi tác, ngôi thứ và được mọi người tôn trọng, ủng hộ và nghe lời. Họ là linh hồn của dòng họ, được đưa ra những phán quyết cuối cùng.

Bên cạnh người trưởng họ, còn có một nhân vật cũng có quyền hành lớn là bà cô. Bà cô truyền dạy những kí hiệu, lời thề, qui ước cuả dòng họ cho thanh niên, có quyền nhận dòng họ khác vào dòng họ mình, đồng thời có quyền thay họ mình sang họ khác, từ đó mang họ mới và có quyền lợi, nghĩa vụ như những người trong họ mới.

Quan hệ dòng họ được thể hiện trong việc giúp đỡ nhau, trong nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo và đặc biệt cấu kết với nhau trong những luật tục rất nghiêm khắc. Mỗi dòng họ quần cư thành một cụm. Thành viên của dòng họ phải tuân theo tục lệ của dòng họ, hàng năm có lễ đuổi ma chung. Mỗi dòng họ có nghi lễ cúng tổ tiên, ma chay, chôn cất riêng. Họ nói "làm ăn sinh sống ta có thể học người ta được, nhưng làm ma ta không thể theo người ta được" 

Với người H’Mông các lễ cúng ma cua (xìa mình), ma mụ (đá trung), ma lợn (bùa dàng), ma trâu (nhìn dàng) là rất quan trọng. Sự khác nhau giữa các dòng họ còn ở số lượng bát bày cúng, cách bày biện, chỗ cúng và ăn, bài cúng, vật tượng trưng không cho người ngoài sờ vào, cái kiêng cấm riêng biệt, người chết được khâm liệm ở nhà hay ở huyệt. Do quan niệm về ông tổ của dòng họ, nên một số dòng họ có kiêng kị trong ăn uống: họ Giàng không ăn tim, họ Ly kiêng ăn lá lách...

Hôn nhân:

Hôn nhân của người H’Mông theo tập quán tự do kén chọn bạn đời. Những người cùng dòng họ không được lấy nhau. Người H’Mông có tục "háy pù", tục này được hiểu là trong trường hợp trai gái yêu nhau, cha mẹ thuận tình nhưng kinh tế khó khăn, trai gái hò hẹn nhau tại một điểm. Từ địa điểm đó bạn trai dắt tay bạn gái về làm vợ. Vợ chồng người H’Mông rất ít bỏ nhau, họ sống với nhau hoà thuận, cùng làm ăn, cùng lên nương, xuống chợ và đi hội hè.

Hôn nhân của người H’Mông theo chế độ một vợ, một chồng. Nếu chẳng may chồng chết thì chị dâu phải lấy em chồng hoặc em họ chồng (theo quan niệm là người con gái đó đã được nhà chồng mua về, đã thành ma của nhà chồng). Trước khi lấy nhau, nam nữ thanh niên thường có các hoạt động xã giao truyền thống, lấy cây khèn, lá cây làm nhạc cụ độc đáo, truyền thống của dân tộc với các làn điệu dân ca H’Mông để thổ lộ tình yêu. Ngoài ra tục "cướp vợ", "kéo vợ" cũng vẫn còn ở một số nơi.

Gia đình:

Gia đình của người H’Mông là gia đình nhỏ, phụ hệ mà tính chất nó được thể hiện trong nhiều tập tục như các dân tộc khác.

Trong sinh hoạt gia đình, ông cậu và bà cô có vai trò quan trọng đối với cháu. Đặc biệt trong việc quyết định gả bán và thách cưới, sau này cô cậu có trách nhiệm chăm lo cho cuộc sống vợ chồng của người cháu.

Người con gái khi lấy chồng sau lễ "nhập môn" là thuộc hẳn gia đình chồng. Nếu về gia đình bố mẹ đẻ thì phải được sự đồng ý của gia đình nhà chồng, phải có chồng đi cùng mới được coi là hợp tập tục.

Nếu vợ bỏ chồng thì phải trả lại tiền cưới cho gia đình nhà chồng.

Ở vùng đồng bào H’Mông, tục trọng nam, khinh nữ còn ảnh hưởng mạnh. Người chồng là chủ gia đình, thay mặt gia đình quyết định mọi công việc như: đi cày, cúng tổ tiên, đón thầy cúng, tham gia các công việc gia đình. Trong gia đình người H’Mông, con trai được quí trọng, sinh nhiều con trai là tốt, tài sản được chia đều cho các con trai. Trong ăn uống người con dâu không được ngồi gần bố chồng, bát uống nước hoặc ống điếu của con dâu phải tráng lại, cho con trai trong nhà giả vờ đặt mồm vào điếu hút rồi mới đưa cho bố mẹ.

Tang ma:

Lễ tang của người H’Mông không phải việc của một nhà, một họ, vì vậy trong những ngày có tang, dân bản già, trẻ không đi đâu mà phải tập trung ở nhà người chết để giúp đỡ, vừa chia buồn, vừa ăn uống. Chuyện tang ma đối với người H’Mông cũng là một hội lễ quan trọng. Nói tang ma là hội lễ, bởi vì người H’Mông cũng có quan niệm "Sống gửi thác về". Chết mới thực sự là được sống một kiếp khác. Cùng chung ý niệm "nghĩa tử là nghĩa tận" như các dân tộc khác, người H’Mông rất coi trọng tang ma, tổ chức đám ma rất chu đáo, trọng thể. Khác với nhiều dân tộc khác, chỉ tổ chức tang lễ một lần sau đó có thờ cúng, tưởng nhớ. Người H’Mông tổ chức hai đám ma: một đám ma tươi khi người đó vừa mất và một đám ma khô khi có điều kiện sau 13 ngày hoặc 1, 3, 5, 7 năm sau. Theo họ làm đám ma tươi mới là tạm thời, mới chôn về thể xác, làm đám ma khô mới là đám ma hoá kiếp cho linh hồn người quá cố được phiêu diêu, tinh độ. Qua đám ma, có thể thấy được tinh thần cộng cảm của cộng đồng người H’Mông. Nếu gạt sang bên tính chất bi thương của tang ma thì có thể coi nhà tang chủ là nơi gặp gỡ, trao đổi, giao tiếp rất thuận tiện. Như vậy, từ trong quan niệm của người H’Mông, rằng tang ma không phải là một cái gì đó quá đau đớn, đến khung cảnh cộng đồng gặp nhau nơi này ăn uống, giao tiếp thăm hỏi gia đình người đã khuất và thăm hỏi lẫn nhau, có thể cảm nhận một điều rằng không khí tang ma người H’Mông có hơi hướng hội. Nói cách khác, có một âm hưởng lạc quan xuyên suốt tang ma người H’Mông, dù tươi hay khô. Sợi chỉ văn hoá đặc sắc là ở chỗ đó.

Tín ngưỡng, tôn giáo:

Từ rất xa xưa, người H’Mông cũng như các tộc người khác không giải thích được thế giới bằng tư duy khoa học. Và từ trong sâu thẳm của tâm thức mách bảo họ, thế giới này là thuộc về các thần linh cai quản. Nhưng trong khi các dân tộc ở đồng bằng vươn tới các tín ngưỡng bậc cao, tức là tôn giáo thì đồng bào các dân tộc miền núi nói chung, người H’Mông nói riêng vẫn tin theo đa thần giáo, chứ chưa hướng tới một tôn giáo nào. Bàn thờ vua rất đơn giản (một tờ giấy bản dán ở vách và cắm mấy chiếc lông gà). Người H’Mông không làm giỗ cho người chết, thường cúng tổ tiên và cúng ma trong ngày lễ, lúc có người ốm đau. Người H’Mông ăn tết Nguyên Đán rất to, đây đồng thời là một lễ hội lớn của đồng bào người H’Mông. Họ chuẩn bị cho những ngày tết rất cẩn thận và chu đáo, đặc biệt là ngày 30 tết. Tuỳ gia đình và dòng họ mà mỗi nơi chọn một ngày chủ để ăn Tết (trước, sau hoặc 30 tết). Khác với người Kinh và các dân tộc khác, tết Nguyên Đán của người H’Mông là vào cuối tháng 11 âm lịch: trong 3 ngày tết kiêng ăn rau xanh. Ngoài ra đồng bào H’Mông còn ăn tết rằm tháng giêng (15-1), tết Thanh minh (3-3), tết Đoan ngọ (5-5), rằm tháng 7... như nhiều dân tộc khác.

Do trình độ dân trí còn thấp nên tất cả mọi rủi may trong cuộc sống, sinh hoạt người H’Mông đều cho là "ma làm" và thường tổ chức cúng lễ tốn kém. Các phong tục tập quán, ma chay, hiếu hỉ đã gây nhiều phiền phức ràng buộc đối với họ, nhất là lễ nghi, cúng ma tươi, ma khô, ma cửa, ma nhà...

Một điểm đáng chú ý là trong khoảng chục năm trở lại đây thì phong trào phát triển đạo Thiên chúa vào vùng dân tộc H’Mông lại phát triển do các tổ chức tôn giáo đã dùng thủ đoạn mới là tuyển chọn những người H’Mông đưa đi đào tạo thành các "thừa tác viên"sau đó về đúng quê mình để tuyên truyền đạo. Mặt khác, các đài phát thanh nước ngoài đã tuyên truyền đạo bằng tiếng H’Mông, vì vậy ở các tỉnh như Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang ... có rất đông người H’Mông theo học đạo Thiên chúa, Tin lành.

Đặc điểm này có ảnh hưởng sâu sắc và rõ nét nhất tới tâm lí người H’Mông. Do quan hệ làng bản, dòng họ chặt chẽ như vậy nên đặc tình H’Mông có tâm lí mang nặng tình cảm dân tộc, có sự ràng buộc bởi quan hệ dòng tộc, huyết thống rất chặt chẽ. Những qui ước, luật tục trong quan hệ cộng đồng, gia đình, hôn nhân, tang ma... cho thấy người H’Mông còn rất nhiều lạc hậu, hiểu biết, nhận thức còn hạn chế. Vì vậy, nó ảnh hưởng và làm xuất hiện ở họ, tâm lí ngại tiếp xúc, giao lưu với người ngoài dân tộc, thích mọi cái đều phải cụ thể, dễ hiểu, nếu làm được thì nhận lời, không làm được thì từ chối ngay.

Như vậy, lịch sử và văn hóa là những nguyên nhân chủ đạo ảnh hưởng đến tâm lý người H' Mông hiện tại.

Smith Peter

Không có nhận xét nào