TIN TỨC

Lịch sử 200 quan hệ thương mại Việt - Mĩ

Việt Nam và Hoa Kỳ cách xa nhau nửa vòng trái đất hay nói chính xác là 14.853 km (9229 dặm) đường chim bay, khi bên này là ngày thì bên kia là đêm. Với khoảng cách đó trong thời đại ngày nay đã là xa, không dễ cho việc thông thương, trao đổi hàng hóa chứ không nói đến thời phong kiến khi các phương tiện giao thông vận tải chưa phát triển. Ấy vậy mà giữa hai quốc gia đã có lịch sử giao thương trên 200 năm với nhiều thăng trầm trong quan hệ. 

Năm 1783, Nguyễn Phúc Ánh (vua Gia Long sau này) nhờ Giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) sang Pháp cầu viện, Hoàng tử Cảnh (khi đó mới 3 tuổi) theo làm con tin. Một năm sau đó, tác giả bản tuyên ngôn độc lập nổi tiếng của nước Mỹ là Thomas Jefferson và sau này trở thành vị Tổng thống thứ 3 của Mỹ được cử đến làm Công sứ toàn quyền Hoa Kỳ tại Pháp. Vị Công sứ này rất quan tâm đến lĩnh vực nông nghiệp và đặc biệt chú ý đến sáu giống lúa tại Miền Nam Việt Nam (khi đó gọi là Đàng Trong) mà ông từng nhận xét là " trắng đẹp, ăn ngon và năng suất cao" . Vì lẽ đó ông đã chủ động xin gặp Hoàng tử Cảnh và đến năm 1788 thì ông đã thực hiện được ý nguyện. Tại cung điện Versailles của Pháp, ông gặp và được Hoàng tử Cảnh hứa sẽ gửi những mẫu lúa của Việt Nam cho Mỹ, tiếc là lời hứa đã không thành hiện thực khi vị hoàng tử nhỏ tuổi về nước, bị cuốn vào những biến động chính trị lúc đó. Nhiều nhà nghiên cứu xem đây như cuộc tiếp xúc “chính thức” đầu tiên giữa hai nước.

Từ tháng 1-1819 đến tháng 8-1820 đã có các tàu Franklin, Marmion do John White làm chủ đến mua hàng ở Gia Định, sau đó còn ra cả Hội An và suốt một dải đất thời đó thuộc Đàng Trong. Dù đến sau so với các nước Pháp, Anh, … nhưng người Mỹ chỉ mất một thời gian ngắn đã hiểu khá tường tận về Việt Nam, những điều mà những nước đến trước phải mất hơn nửa thế kỷ mới biết. Gạo, đường, tơ lụa…là những mặt hàng ở Việt Nam rất phong phú, giá lại rẻ hơn các nước khác trong khu vực mà người Mỹ quan tâm, mặc dù gạo là mặt hàng bị triều đình nhà Nguyễn cấm xuất khẩu. Những thông tin về Việt Nam đã được John White cũng như các thương lái khác báo về bản quốc, buộc Chính phủ Mỹ có quyết định nhảy vào Việt Nam để chia sẻ miếng bánh lợi nhuận với các nước khác.

Vào đầu năm Minh Mạng thứ 13(1832), phái bộ Mỹ do Edmund Roberts, Thuyền trưởng chiến hạm USS Peacock, Đặc phái viên của Tổng thống Mỹ Andrew Jackson mang theo Quốc thư và bản Dự thảo Hiệp ước Thương mại với Việt Nam gồm 8 điều tới nước ta bằng đường biển. Như một điềm báo, bị gió mùa thổi mạnh nên thuyền của người Mỹ đã không vào được cửa Đà Nẵng mà bị trôi dạt xuống Phú Yên. Vua Minh Mạng đã cử quan Viên ngoại Nguyễn Tri Phương đến gặp và hai bên đã có một số cuộc trao đổi trên tàu, tuy nhiên do không có sự hiểu biết, tin tưởng lẫn nhau nên Hiệp ước đã không được ký, bỏ lỡ cơ hội hợp tác giữa hai nước. Cần lưu ý vào thời điểm đó, Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ở Đông Nam Á có tiếp xúc với Mỹ, ngay cả đồng minh ngày nay của Mỹ là Thái Lan thì mãi đến năm 1818 mới có cuộc tiếp xúc đầu tiên, Philippin đang là thuộc địa của Tây Ban Nha…

Sau một thời gian tương đối dài, triều đình nhà Nguyễn nhận thức được tầm quan trọng của mối quan hệ với Mỹ cộng thêm sức ép ngày càng lớn đến từ người Pháp, năm 1873 vua Tự Đức đã cử sứ thần Bùi Viện sang Mỹ. Vị sứ thần này đã lưu lại Mỹ hơn một năm, có nhiều lần tiếp kiến với Tổng thống U. Grant và đã nhận được sự ủng hộ từ phía Mỹ về việc góp phần hạn chế sự uy hiếp của Pháp, nhưng do không mang quốc thư nên đã không nhận được cam kết chính thức. Năm 1875, ông Bùi Viện mang theo Quốc thư lần thứ hai sang Mỹ nhưng đã không nhận được kết quả như mong đợi mà nguyên nhân quan trọng là người Mỹ đã thay đổi thái độ trong quan hệ với Việt Nam.

Trong giai đoạn 1939 – 1945, Việt Nam và Mỹ có quan hệ giao hảo rất tốt, là những chiến hữu với nhau trong phe đồng minh chống phát xít. Tổ chức Việt Minh và phái bộ OSS (tiền thân của CIA) đã hợp tác có hiệu quả trên mặt trận chống Nhật tại Đông Dương. Phía Mỹ thỏa thuận hỗ trợ cho Việt Minh một số vũ khí, khí tài và huấn luyện quân sự, đổi lại Việt Minh đã giúp cho Mỹ các cơ sở hạ tầng như sân bay dã chiến, giúp đỡ, che chở cho quân Mỹ thoát khỏi sự kiểm soát của quân Nhật. Năm 1944, một máy bay Mỹ bị Nhật bắn rơi tại Cao Bằng, viên phi công Wiliam Saw đã được Việt Minh giải cứu, được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đón và tìm cách đưa về Tập đoàn không quân số 14 của Mỹ đóng tại Côn Minh, Trung Quốc. Bằng khả năng vận dụng đường lối ngoại giao tài tình, khéo léo, Người đã đặt nền móng vững chắc cho mối quan hệ này từ ngày đó.

Năm 2000, đúng 169 năm sau ngày Thuyền trưởng Edmund Roberts đến Việt Nam, đề xuất của Tổng thống Andrew Jackson đã thành hiện thực khi Việt Nam và Mỹ chính thức ký Hiệp định Thương mại song phương (BTA), có hiệu lực vào năm 2001. Để có được văn kiện pháp lý mang tính lịch sử này, cả hai bên đã phải vượt qua rất nhiều khó khăn, thử thách và có những lúc trong đàm phán tưởng chừng như bế tắc. 
Quan hệ Việt – Mỹ ngày càng được tăng cường

Sau hơn một thập kỷ kể từ ngày Hiệp định được ký kết, Mỹ đã trở thành một trong các đối tác thương mại, nước có đầu tư trực tiếp (FDI) lớn nhất vào Việt Nam. Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước tăng trên 1200% từ mức 1,5 tỉ USD năm 2001 lên 24,49 tỉ USD năm 2012, trong đó, xuất khẩu đạt 19,66 tỷ USD và nhập khẩu đạt 4,83 tỷ USD. Cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam trong trao đổi thương mại với Hoa Kỳ có mức thặng dư lớn, như số liệu trên cho thấy năm 2012, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ cao gấp 4 lần so với kim ngạch nhập khẩu, nhờ đó mức xuất siêu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã lên tới 14,8 tỷ USD. Cho đến nay, Mỹ là thị trường tiêu thụ hàng hoá lớn nhất, là đối tác lớn thứ hai của Việt Nam trên toàn thế giới (đứng sau Trung Quốc) và là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong khu vực châu Mỹ. 

Tuy nhiên, trị giá buôn bán hai chiều giữa Việt Nam với Mỹ chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của nước này(chưa đển 1%). Đối với Hoa Kỳ, Việt Nam là đối tác xếp thứ 23 về xuất khẩu hàng hóa và xếp thứ 40 về nhập khẩu hàng hóa từ thị trường này. Vì vậy, giữa hai nước đang có rất nhiều cơ hội phát triển quan hệ thương mại, và Việt Nam cần có các chính sách phù hợp để khai thác thị trường rộng lớn của Mỹ. 

Hiện nay Việt Nam và Hoa Kỳ cùng 10 nước khác đang đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), với những cam kết sâu và mạnh mẽ hơn cả khuôn khổ BTA hay WTO. Trước đó, Việt Nam đã đề nghị Mỹ công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường (MES) và trao Quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) nhằm tạo thuận lợi hơn nữa cho thương mại và kinh tế giữa hai nước.

Mặc dù còn có những khác biệt, tranh chấp nhưng kinh tế - thương mại vẫn đóng vai trò như nhân tố chủ chốt, thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ. Và với một lịch sử giao thương lâu dài như vậy, chúng ta có quyền hi vọng vào tương lai tốt đẹp hơn cho quan hệ hai nước nói chung và thương mại nói riêng.

Khổng Minh

Không có nhận xét nào