Tiếng nói trẻ blog
Searching...

Quan hệ Việt – Trung, liệu chiến tranh có xảy ra trong tương lai?

Đăng lúc: Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2013
Hãy like nếu bài viết có ích →


      Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc luôn là chủ đề nóng bỏng trong hơn 4000 năm lịch sử của Việt Nam, cho dù thời đại nào đều mang tính thời sự. Là hai nước láng giềng có chung đường biên giới trên bộ và biển Đông nên vấn đề tranh chấp biển đảo, biên giới hiện đang là đề tài căng thẳng và gay gắt hiện nay.
Nếu nhắc đến lịch sử Việt Nam mà không nhắc đến Trung Quốc thì đó là một sự thiếu sót lớn. Chúng ta đã trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc, đó là thời kỳ có thể nói là đen tối nhất trong lịch sử đất nước. Sau năm 938 mặc dù đất nước chúng ta dành được độc lập nhưng chúng ta vẫn phải chịu cống nạp cho Trung Quốc. Ngay cả khi hai nước cùng chung một chế độ XHCN thì chiến tranh vẫn nổ ra.
Thời gian gần đây những căng thẳng trên biển Đông trong dư luận lại rộ lên thông tin chiến tranh Việt- Trung lại sắp nổ ra. Liệu đây có là sự thật?
Bỏ qua lịch sử quan hệ hai nước trước năm 1945 đến nay thì quan hệ Việt Nam - Trung Quốc được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn 1 từ 1945 – 1972, giai đoạn tương trợ lẫn nhau; giai đoạn 2 từ 1972 -1990 giai đoạn quan hệ xuống cấp nghiêm trọng và giai đoạn 3 từ 1990 – đến nay giai đoạn hợp tác phát triển nhưng còn nhiều bất đồng.

      Trong giai đoạn đầu tiên, dù còn muôn vàn khó khăn nhưng Việt Nam - Trung Quốc đã thể hiện tình đồng chí của hai nước Cộng sản chung lưng đấu cật, giúp đỡ lẫn nhau. Việt nam trong những năm 1947-1949 đã cử quân tham gia chiến đấu, góp phần giải phóng Trung Quốc khỏi sự thống trị của Quốc dân đảng. Đồng thời, khi giành được thắng lợi Trung Quốc cũng hết sức giúp đỡ cách mạng Việt Nam. Họ cũng cử cả cố vấn quân sự sang giúp ta đánh Pháp. Toàn bộ xe cơ giới trong chiến dịch Điện Biên Phủ của ta là do Trung Quốc viện trợ hoàn toàn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và chủ tịch Mao Trạch Đông
Vào những năm 60 của thế kỷ trước, tuy quan hệ Xô – Trung có những rạn nứt nhưng hàng hóa Liên Xô viện trợ cho Việt Nam đánh Mỹ vẫn được phép đi qua Trung Quốc mà không gặp phải bất kỳ trở ngại nào, thêo đúng tinh thần:
“Sơn thủy tương liên,
Lý tưởng tương thông,
Văn hóa tương đồng,
Vận mệnh tương quan”

      Giai đoạn 2, được đánh dấu bằng thông cáo Thượng Hải 1972 của Trung Quốc và Mỹ ngày 28/2/1972 có 3 điểm liên quan đến Việt Nam :
Hai: Trung Quốc chấp nhận kiềm chếViệt Nam; đổi lại, Hoa Kỳ giảm dần đi đến triệt thoái các căn cứ quân sự và quân đội Hoa Kỳ ở Đài Loan.
Ba: Trung Quốc chấp nhận để Hoa Kỳ giữ nguyên chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, không ủng hộ việc thành lập chính phủ liên hiệp ở miền Nam sau khi có hiệp định hòa bình; đổi lại, Hoa Kỳ ủng hộ Trung Quốc giữ ghế thành viên cố định tại Hội đồng bảo an liên hợp quốc thay thế Đài Loan.
Bằng kinh nghiệm lịch sử, Viêt Nam hiểu rằng đồng minh Trung Quốc đã bán đứng mình, Việt Nam đã trở thành món hàng mặc cả để giữ thế cân bằng lực lượng giữa các cường quốc đối với các vấn đề Đông Nam Á và thế giới. Ngay sau khi Việt Nam giành được độc lập thì quan hệ Việt - Trung xấu đi trông thấy , đỉnh điểm là cuộc chiến tranh biên giới (17/ 2 đến 5/8/1979), tiếp đó là xung đột kéo dài hơn 10 năm nữa và chỉ thực sự kết thúc khi Việt Nam rút quân khỏi Cam Pu Chia năm 1989.

      Giai đoạn 3, sau khi Việt Nam rút quân tình nguyện khỏi Cam Pu Chia, lãnh đạo cấp cao hai nước đã có những tiếp xúc để bình thường hóa lại mối quan hệ hữu nghị. Hội nghị Thành Đô ngày 3-4/9/1990, hai nước tuyên bố bình thường hóa quan hệ. Ngày 5/11/1991, đ/c Đỗ Mười Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam và đ/c Võ Văn Kiệt, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đến thăm Trung Quốc. Ngày 7/11/1991, Hiệp định mậu dịch Trung - Việt và Hiệp định tạm thời về việc xử lý công việc biên giới hai nước đã được ký tại nhà khách quốc gia Điếu Ngư Đài, Bắc Kinh. Quan hệ nồng thắm giữa hai nước được nối lại.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và chủ tịch Tập Cận Bình

      Quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong những năm đầu thế kỷ XXI phát triển theo hướng Việt Nam ngày càng có quan hệ sâu rộng với Trung Quốc trong hầu hết các lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế và chính trị. Hai nước cũng đang cố gắng giải quyết những bất đồng. Đặc biệt là tình hình biển Đông với việc phân giới cắm mốc biên giới trên bộ và ký kết phân chia vịnh bắc bộ năm 2009. 
Trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tháng 5-2008, hai bên nhất trí phát triển “quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện”. Hiện nay, Việt Nam mới chỉ thiết lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Nga và Trung Quốc. Từ khi bình thường hóa quan hệ năm 1991 đến nay, quan hệ kinh tế thương mại Trung Quốc – Việt Nam được khôi phục và phát triển nhanh chóng. Kim ngạch thương mại giữa hai nước từ hơn 30 triệu USD năm 1991 lên 22,5 tỷ USD năm 2009, tăng gấp gần 700 lần. Trung Quốc đã trở thành bạn hàng lớn nhất của Việt Nam. Lợi ích thương mại song phương mang lại cho hai nước là điều dễ dàng nhìn thấy

      Nhưng kể từ năm 2008 đến nay, quan hệ Việt – Trung gặp phải rất nhiều vấn đề như: tình hình căng thẳng trên biển Đông, việc Trung Quốc tuyên bố vô lý về đường lưỡi bò chín đoạn, tranh chấp giữa hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Việc Trung Quốc có cách hành xử vô lý vi phạm vùng lãnh hải và đặc quyền kinh tế của Việt Nam, tiếp đó là việc vũ trang mạnh mẽ của hải quân hai nước, nhiều ý kiến cho rằng chiến tranh lại sắp nổ ra. 

Việt Nam và Trung Quốc hoàn thành việc phân định cắm mốc biên giới

      Tuy có rất nhiều vấn đề nổi cộm trong quan hệ hai nước nhưng ở thượng tầng cả hai đều nhất trí giải quyết mọi tranh chấp bất đồng bằng phương pháp hòa bình. Trong cuộc chiến biên giới ngoài các thương vong về con người, tổn thất cụ thể về cơ sở vật chất hạ tầng ở 6 tỉnh biên giới bị phá hủy do trận chiến, Việt Nam còn phải gánh chịu nhiều khó khăn, thiệt hại do thái độ và chính sách thù địch, vây hãm mà Trung Quốc và đồng minh của Trung Quốc gây ra trên các mặt trận quân sự, kinh tế, ngoại giao... ,vì vậy lãnh đạo nước ta luôn cố gắng hết sức tránh cuộc đối đầu quân sự với Trung Quốc. Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến 12/ 1946 Bác Hồ cũng đã từng nói “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng”. Điểm lại lịch sử, ngay sau thắng lợi giòn giã ở ải Chi Lăng chém cụt đầu tướng giặc Liễu Thăng nhưng hàng năm nhà Lê vẫn phải cống nạp người băng vàng cho nhà Minh. Tiếp đó, mùa xuân 1789 Quang Trung đại phá quân Thanh nhưng vẫn phải cử người sang nhà Thanh cầu hòa xin phong vương chứ không phải xưng đế. Đó lá chính sách nước nhỏ sống cạnh một nước khổng lồ đã được ông cha đúc rút kinh nghiệm qua hàng ngàn năm lịch sử. Nhưng cái gì cũng có giới hạn của nó, vì dân tộc Việt Nam, Bác đã từng nói: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” 

      Bằng chính sách ngọai giao khéo léo, phương châm nhìn xa trông rộng của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, mọi chính sách của Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc đang diễn ra rất đúng đắn, tuân thủ Luật pháp quốc tế, đồng thời cô lập kẻ thù và làm cho mối quan hệ hữu nghị hai nước ngày càng nồng thắm. Như vậy tuy còn nhiều bất đồng chưa được giải quyết chúng ta có thể tin rằng chiến tranh giữa hai nước không thể xảy ra trong thời gian ngắn. 
Hy vọng mối quan hệ Việt – Trung sẽ luôn đi theo phương trâm "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" do lãnh đạo Trung Quốc đưa ra nhằm mở ra cục diện phát triển mới cho quan hệ hai nước.

Nguồn Nendanchu2012


Bài viết liên quan

- Liên kết quảng cáo -
QUANG CAO O DAY