Tiếng nói trẻ blog
Searching...

Truyền thống yêu nước của nhân dân Việt Nam

Đăng lúc: Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013
Hãy like nếu bài viết có ích →



Tuệ Mẫn
Từ ngàn xưa, lòng nồng nàn yêu nước là một truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam. Từ khi hình thành quốc gia dân tộc Việt, Văn Lang - Âu Lạc, Việt Nam chủ yếu vẫn là một nước nông nghiệp. Nghề nông là một nghề lao động vất vả, không chỉ đòi hỏi nhiều sức lao động, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên. Trong khi đó, điều kiện tự nhiên của Việt Nam lại mưa nắng thất thường do nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và đông nam, gây ra nhiều thiên tai, hạn hán, mất mùa. Chính những đặc điểm này đã ảnh hưởng tới sự hình thành hệ giá trị của dân tộc Việt Nam, tạo nên sự gắn bó cộng đồng bền chặt, sự thương yêu đùm bọc lẫn nhau, đặt nền móng cho tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm. Bên cạnh đó, do có nhiều tài nguyên thiên nhiên và là đầu mối giao thông quốc tế quan trọng, nên Việt Nam luôn là mục tiêu xâm lược của nhiều quốc gia. Bởi vậy, muốn bảo vệ đất nước, người Việt Nam phải hy sinh nhiều lợi ích riêng của mình, cùng nhau đoàn kết bảo vệ những lợi ích chung. Những tình cảm gắn bó mang tính địa phương phát triển thành tình cảm rộng lớn - lòng yêu nước.
Thời kỳ Bắc thuộc lòng yêu nước biểu hiện qua ý thức bảo vệ những di sản văn hoá của dân tộc, lòng tự hào về những chiến công, tôn kính các vị anh hùng chống đô hộ.Từ lòng căm thù quân giặc đó Lòng yêu nước được nâng cao và khắc sâu hơn để từ đó hình thành truyền thống yêu nước Việt Nam. Truyền thống yêu nước Việt Nam trở thành vũ khí sắc bén, chống lại mọi âm mưu xâm lược của kẻ thù. Đánh đuổi giặc ngoại xâm, đưa nước ta thoát khỏi ách thống trị của Một Nghìn năm Bắc thuộc.
Chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ ở phương tây, nhu cầu về nguyên liệu ngày càng trở nên cấp thiết, chính vì vậy việc khai thác thuộc địa được các nước tư bản đẩy mạnh hơn bao giờ hết. Chúng ra sức đàn áp nhân dân ta, đẩy nhân nhân ta vào cuộc sống lầm than, cơ cực. Kẻ thù không ngừng ra sức trả thù và tiêu diệt dã man những người Cách Mạng tham gia kháng chiến ; hàng trăm ngàn người bị giết và bị lưu đày (Luật 10/59).
Để thực hiện mục đích “hủy diệt và nô dịch” dân tộc VN, Mỹ đã giội xuống hai miền Nam, Bắc hơn 7,8 triệu tấn bom đạn, một khối lượng bom đạn lớn hơn lượng bom đạn mà Mỹ đã sử dụng trong bất cứ cuộc chiến tranh nào trước đó. Trong chiến tranh phá hoại ở miền Bắc VN của Mỹ, bình quân một người dân phải chịu 45,5 kg bom đạn, 1km2 chịu 6 tấn bom đạn. Tỉ lệ này lớn hơn nhiều so với một số nước bị thiệt hại nặng nhất trong chiến tranh thế giới thứ hai, cụ thể là: Đức: 1 người/27 kg, 1km2/5,4 tấn; Nhật Bản: 1 người/1,6 kg, 1km2/0,43 tấn. Những con số thật khủng khiếp. Chỉ trong mười năm (1961-1971), quân đội Mỹ đã phun hơn 20 triệu gallon (1gallon = 3,78 lít) chất độc da cam cũng như nhiều thuốc “diệt cỏ” chứa hóa chất chết người dioxin đã làm cho hàng triệu người VN mắc bệnh, vô số thai nhi biến dạng và di chứng kéo dài cho đến tận ngày nay. Loài người có lương tri không thể không đau xót, căm phẫn khi phải chứng kiến hàng ngàn, hàng vạn người dân VN vô tội, nhất là trẻ em, phải chịu cảnh bom đạn chiến tranh, mất gia đình người thân, phải vùi mình trong bom đạn.  Đế Quốc Mỹ xâm lược Việt Nam và đã gây ra biết bao đau thương cho dân tộc Việt Nam. Chúng thi hành những luật pháp dã man, Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước của ta. Chúng đàn áp các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Chúng thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược. Nhân dân ta bần cùng, cơ cực vì đủ các loại thuế má mà chúng đặt ra, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta trở nên lầm than, cơ cực. Các cuộc chiến tranh chúng gây ra cho đất nước ta đã khiến biết bao gia đình rơi vào cảnh tang thương. Mất đi người thân do bom đạn chiến tranh
Trước những tội ác tàn bạo mà Đế quốc Mỹ gây ra cho nhân dân ta. Lòng căm thù giặc càng trở nên sâu sắc. Trong hoàn cảnh đó, chỉ có đoàn kết toàn dân tộc mới làm nên sức mạnh đánh đuổi kẻ thù. Nhân dân Miền Nam đã đứng lên đấu tranh, thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (1960); với sự chi viện từ Miền Bắc và sự ủng hộ tinh thần và vật chất của phe Xã Hội Chủ Nghĩa: Liên Xô, Trung Quốc, Ba Lan, Hung ga ri, Cu ba; nhất là Liên Xô đã giúp về khí tài, vật lực và Lào, Cam-pu-chia cho mượn đường, làm nơi trú ẩn để vận chuyển vũ khí, quân đội… Trong 20 năm, nhân dân Việt Nam đã chiến đấu làm sụp đổ trên chục Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ở Sài Gòn và làm tan rã hơn một triệu rưỡi quân – bao gồm quân đội, cảnh sát, dân vệ… của chế độ Sài Gòn (Từ năm 1960 đến 1975 có trên 275.000 lính Việt Nam Cộng Hòa tử thương), loại khỏi vòng chiến trên nửa triệu quân Mỹ và các Đồng Minh của Mỹ, như: Nam Triều Tiên (Koréa), Úc (Austrélia), Tân Tây Lan (Newzeland), Philippine, Tháiland; Làm phá sản các chiến lược: “Chiến tranh Đặc biệt (1961-1964)”, “Chiến tranh Cục bộ (1965-1968)” và “Việt Nam hoá chiến tranh (1969 -1975)” của Mỹ; mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh, với chiến thắng Mùa Xuân 1975, thống nhất đất nước. Lòng căm thù quân giặc sục sôi đã trở thành lòng yêu nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Chính lòng nồng nàn yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc đã trở thành động lực mạnh mẽ, tạo nên quyết tâm đánh đuổi kẻ thù, giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Làm nên các thắng lợi vẻ vang cho dân tộc ta.
Đúng như Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói: “ Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bàn nước và lũ cướp nước."


Bài viết liên quan

- Liên kết quảng cáo -
QUANG CAO O DAY